Vì sao Bộ Lao động phải ra Quy định mức trần tiền ký quỹ ?

Hiện nay, tình trạng lao động sang làm việc tại các nước như Hàn Quốc, Đà Loan, thị trường Đông Âu...cứ hết hạn hợp đồng bỏ trốn không chịu về nước khiến nguy cơ bị đóng cửa đối với những người lao động đi mới là rất lớn.

Hiện nay, tình trạng lao động sang làm việc tại các nước như Hàn Quốc, Đà Loan, thị trường Đông Âu...cứ hết hạn hợp đồng bỏ trốn không chịu về nước khiến nguy cơ bị đóng cửa đối với những người lao động đi mới là rất lớn. Mấy năm gần đây Việt Nam đã đánh mất thị trường xuất khẩu lao động lớn đó là Hàn Quốc. Trong suốt thời gian dài vừa qua từ khi nước ta hội nhập vào thị trường lao động thế giới bằng hoạt động đưa người Việt Nam ra nước ngoài làm việc, tình trạng lao động Việt Nam bỏ trốn diễn ra ở hầu hết các thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc (chiếm 30%-40%), Đài Loan (10%-15%). Theo thống kê của Cục Quản lý Lao động Ngoài nước, trong khoảng thời gian từ tháng 1/2003 đến 4/2008 đã có 39.401 lao động bỏ trốn (chiếm 8,54% tổng số lao động đã đưa đi). Trong đó Đài Loan là 28.330 lao động, Nhật Bản là 2.644 lao động, Hàn Quốc là 6.564 lao động. Trong khi đó, tỷ lệ lao động bỏ trốn của các quốc gia khác như Trung Quốc, Thái Lan, Philippine, Indonesia,… trên cùng thị trường chỉ từ 1% đến 5%. Hiện nay, tình trạng lao động Việt Nam bỏ trốn tại các thị trường tuy đã giảm nhưng vẫn còn bức xúc. Đây có lẽ là bài toán đau đầu nhất chưa tìm được lời giải đối với các công ty xuất khẩu lao động và các cơ quan quản lý của Việt Nam. Ngoài thiệt hại về kinh tế đối với các công ty XKLĐ vì bị phạt,  người lao động nếu bị phát hiện sẽ bị trục xuất về nước sớm, thiệt hại lớn nhất mà không thể đo lường được là hình ảnh lao động Việt Nam bị xấu đi trong mắt bạn bè quốc tế, giá cả của lao động Việt Nam sẽ bị hạ thấp, và có thể lao động Việt Nam sẽ bị một số thị trường từ chối tiếp nhận. Nguyên nhân lao động Việt Nam bỏ trốn Qua khảo sát nhanh một số chuyên gia và người tham gia xuất khẩu lao động trở về, những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến lao động bỏ trốn  bao gồm: Về kinh tế: Lao động Việt Nam sẵn sàng phá vỡ hợp đồng ra ngoài làm để có thu nhập cao hơn và để ở lại nước ngoài bất hợp pháp lâu hơn, cho dù việc làm này có thể gặp rủi ro và bị trục xuất về nước. Nhiều trường hợp, ngay sau khi sang nước bạn đã bỏ ra ngoài và bị phát hiện trục xuất về nước, chịu thiệt hại nặng nề cho bản thân vì chưa trả nợ được số vốn vay để đi xuất khẩu lao động. Thị trường Nhật Bản luôn có tỷ lệ lao động bỏ trốn cao nhất vì quốc gia này nhận lao động Việt Nam dưới dạng “tu nghiệp sinh”. Thực chất là một hình thức sang nước ngoài để học việc, tu nghiệp. Do đó, thu nhập hàng tháng chỉ từ 500 – 700 USD/người/tháng với thời hạn tu nghiệp thường khoảng 3 năm. Trong khi đó đây là những quốc gia phát triển có thu nhập cao, nếu trốn ra ngoài làm việc mức thu nhập là 1.500 – 2.000 USD/người/tháng và nếu không bị bắt và bị trục xuất thì sẽ được làm việc lâu hơn ở nước ngoài. Mặt khác, người tham gia xuất khẩu lao động ở nước ta hầu hết thuộc tầng lớp có thu nhập thấp, trước khi đi lao động ở nước ngoài phải vay mượn nhằm trang trải chi phí rất lớn từ vài chục đến cả trăm triệu đồng. Trong khi đó, thực trạng lao động Việt Nam sau khi đi XKLĐ về nước chỉ 20-25% kiếm được việc làm ổn định. Do đó, sức ép đối với họ để mau chóng hoàn trả vốn và có một khoản tích lũy để làm ăn khi về nước là rất lớn. Đây là lý do cơ bản mà lao động Việt Nam sẵn sàng bỏ trốn bất chấp có thể gặp rủi ro. Do tình trạng lừa đảo: Trong những năm qua, tình trạng lừa đảo trong xuất khẩu lao động đã góp phần làm cho một bộ phận lao động phá vỡ hợp đồng và cư trú bất hợp pháp tại nước ngoài. Lợi dụng kẽ hở của luật pháp, nhiều tổ chức môi giới và cò mồi đã lừa đảo những người nhẹ dạ và thiếu hiểu biết. Theo quy định, các doanh nghiệp xuất khẩu lao động chỉ được mở 3 chi nhánh nhưng thực tế các chi nhánh của doanh nghiệp lại mở thêm các trung tâm. Hơn nữa, luật chỉ quy định doanh nghiệp phải tuyển trực tiếp, do vậy các doanh nghiệp vẫn lợi dụng kẽ hở này bằng cách đảm bảo thủ tục giấy tờ ký kết trực tiếp với lao động nhưng thực ra người lao động phải đi rất vòng vo qua hệ thống chân rết mới đến được doanh nghiệp. Các chân rết cò mồi hiện vẫn tự do hoạt động khi không có chức năng XKLĐ và đều tìm cách thu lợi bất chính. Bên cạnh đó, các môi giới thường lợi dụng vào những hợp đồng liên kết, cung ứng lao động với các doanh nghiệp để thu tiền, cam kết một cách vô tội vạ với người lao động. Ngược lại, từ phía người lao động cũng tự mình tham gia vào trò chơi với những người môi giới này do khát vọng xuất ngoại trong khi bị nhiễu thông tin. Vì vậy, trong thời gian qua tình trạng người làm thủ tục đi xuất khẩu lao động bị cò mồi lừa gạt thường xuyên xảy ra. Khi ra nước ngoài và biết mình bị lừa, lao động Việt Nam chỉ còn biết tìm đường trốn, chấp nhận cư trú bất hợp pháp để tìm việc khác với mong muốn kiếm tiền để thu hồi vốn đã đầu tư. Do đặc điểm tâm lý xã hội: Một nguyên nhân khác giải thích tình trạng lao động Việt Nam bỏ trốn nhiều hơn lao động của các quốc gia khác xuất phát từ đặc điểm tâm lý xã hội của người Việt. Do ảnh hưởng của lối sống làng xã và nền văn minh nông nghiệp lúa nước từ lâu đời đã hình thành ở người Việt một số giá trị tiêu cực cho sự phát triển, đặc biệt là ý thức rất kém về pháp luật; kém về ý thức cá nhân, dễ bị kích động, thường làm theo phong trào một cách tự phát mà ít có chính kiến cá nhân. Do đó, họ rất dễ bị những chủ doanh nghiệp bản địa lôi kéo, dễ dàng nghe theo những lao động đã bỏ trốn trước đó để phá vỡ hợp đồng đã ký kết. Cùng với đó là lối làm ăn nhỏ lẻ, manh mún, vụn vặt,… đã hình thành tính cục bộ, vì lợi ích cá nhân, tính tùy tiện, ý thức tổ chức kỷ luật kém, nên khi tiếp cận với văn minh công nghiệp của các nước phát triển, lao động Việt Nam hay hành động theo cảm tính và sự tùy tiện của mình nên thường vi phạm thỏa thuận đã ký kết, bỏ trốn nhằm mưu lợi cá nhân trước mắt, bất chấp gây hậu quả cho cộng đồng, cho đất nước và những rủi ro có thể xảy ra cho chính bản thân họ. Mặt khác, do tính sĩ diện của mình, người Việt thường có tâm lý đã đi nước ngoài là khi về phải có nhiều tiền, trở thành người giàu sang,…. đã thôi thúc không ít lao động phá vỡ hợp đồng với mong muốn làm giàu nhanh  để khi trở về có thể nở mặt nở mày với họ hàng, bà con làng xóm, khu phố,… Về luật pháp: Các quy định ràng buộc và đặc biệt là chế tài đối với lao động xuất khẩu của nước ta trong thời gian qua còn lỏng lẻo cũng là một trong những nguyên nhân làm cho lao động dễ dàng bỏ trốn. Trên danh nghĩa, lao động bỏ trốn  có thể phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, các cơ quan thụ lý đã  không thể xử lý những trường hợp này vì còn thiếu một số văn bản theo quy định của pháp luật, như phải có biên bản xử phạt hành chính về việc lao động bỏ trốn (có xác nhận của những lao động làm việc cùng hoặc của chủ sử dụng về việc lao động bỏ trốn), mới có căn cứ xử lý hình sự khi lao động đó về nước. Chính sự thiếu đồng bộ trong hành lang pháp lý, cùng với thủ tục trình tự xét xử phức tạp, việc tìm kiếm lao động bỏ trốn ở nước ngoài để đưa ra tòa khó như tìm kim đáy biển, nên cho đến nay chưa một trường hợp lao động bỏ trốn nào bị đưa ra tòa. Hình thức cưỡng chế duy nhất đối với lao động bỏ trốn trong thời gian qua là tiền ký quỹ, đặt cọc. Trên thực tế, hình thức này không giải quyết được vấn đề vì nhiều lao động sẵn sàng chịu mất số tiền này. Hơn nữa, chính khoản tiền ký quỹ càng như một gánh nặng đối với lao động phải đầu tư ban đầu, càng làm cho lao động tìm cách bỏ ra ngoài làm nhằm kiếm nhiều tiền hơn để trang trải nợ, thu hồi vốn. GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG TRÊN Để ngăn chặn và khắc phục tình trạng trên, ngày 10/10/2013, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ra Thông tư số 21 “Quy định mức trần tiền ký quỹ và thị trường lao động mà Doanh nghiệp dịch vụ được thỏa thuận ký quỹ với người lao động”. Thông tư nói rõ: Căn cứ Nghị định số 106/2012/NĐ-CP ngày 20/12/2012 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Căn cứ Điều 23 Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng ngày 29/11/2006. Theo đề nghị của Cục trưởng Cục quản lý lao động ngoài nước. Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư quy định về mức trần tiền ký quỹ và thị trường lao động mà Doanh nghiệp dịch vụ được thỏa thuận ký quỹ với người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Điều 1: Phạm vi điều chỉnh. Thông tư này quy định về mức trần tiền ký quỹ và thị trường lao động mà doanh nghiệp hoạt động dịch vu đưa người lao đông Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài được thỏa thuận ký quỹ với người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Điều 2 : Đối tường áp dụng.
  1. Doanh nghiệp dịch vụ được cấp phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.( gọi chung là doanh nghiệp dịch vụ).
  2. Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài ký với doanh nghiệp dịch vụ (gọi chung là người lao động).
Điều 3 : Nguyên tắc thực hiện ký quỹ. Người lao động và doanh nghiệp dịch vụ thỏa thuận về việc ký quỹ theo nghành, nghê, nước tiếp nhận lao động với mức tiền ký quỹ không quá mức trần tiền ký quỹ được quy định tại Thông tư này. Điều 4 : Mức trần tiền ký quỹ và thị trường lao động được thỏa thuận ký quỹ.
  1. Thị trường lao động mà doanh nghiệp dịch vụ được thỏa thuận ký quỹ với người lao động và mức trần tiền ký quỹ của người lao động tại một số thị trường lao động theo Phụ lục số 01 ban hành kèm theo Thông tư này.
  2. Trường hợp người lao động không ký quỹ hoặc không đủ tiền ký quỹ, doanh nghiệp dịch vụ có thể thỏa thuận với người lao động thực hiện bảo lãnh theo quy định tại Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT - BLĐTBXH - BTP ngày 11/7/2007 của liên Bộ lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ tư pháp hướng dẫn chi tiết một số vấn đề về nội dung Hợp đồng bảo lãnh và việc thanh lý Hợp đồng bảo lãnh cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Điều 5: Quản lý sử dụng tiền ký quỹ. Việc thực hiện, quản lý và sử dụng tiền ký quỹ của người lao động được thực hiện theo quy định tại Thông tư liên tịch số 17/2007/TTKT - BLĐTBXH - NHNNVN ngày 04/9/2007 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định việc quản  lý và sử dụng tiền ký quỹ của doanh nghiệp và tiền ký quỹ của người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Điều 6 : Chế độ báo cáo.  Doanh nghiệp dịch vụ có trách nhiệm báo cáo định ký, đột xuất (khi có yêu cầu) về tình hình thực hiện, quản lý và sử dụng tiền ký quỹ của người lao động gửi Cục quản lý lao động ngoài nước theo mẫu tại Phụ lục số 02 ban hành kèm theo Thông tư này trước ngày 20/6 và 20/12 hàng năm Điều 7 : Điều khoản chuyển tiếp. Các thỏa thuận giữa doanh nghiệp dịch vụ và người lao động về mức tiền ký quỹ tại các thị trường lao động thực hiện trước ngày Thông tư này có hiệu lực thì tiếp tục thực hiện cho đến khi thời hạn thỏa thuận ký quỹ đó hết hiệu lực. Điều 8 : Tổ chức thực hiện.
  1. Các doanh nghiệp dịch vụ và người lao động có trách nhiệm thực hiện theo đúng quy định tại Thông tư này.
  2. Cục quản lý lao động ngoài nước, Thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố trực thuộc TW và các cơ quan có liên quan khác có trách nhiệm kiểm tra giám sát và đôn đốc việc thực hiện của các doanh nghiệp.
  3. Thông tư này có hiều lực kể từ ngày 01/12/2013.
  4. Trong quá trình thức hiện nếu có vướng mắc, đề nghị phản ánh về Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đề kịp thời hướng dẫn, bổ sung.
MỨC TRẦN TIỀN KÝ QUỸ DOANH NGHIỆP ĐƯỢC THỎA THUẬN KÝ QUỸ VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI MỘT SỐ THỊ TRƯỜNG.

TT

THỊ TRƯỜNG

NGÀNH NGHỀ

MỨC TRN TIN KÝ QUỸ

1

ĐÀI LOAN Công nhân nhà máy, xây dựng

1.000 USD

GVGĐ, chăm sóc sức khỏe

800 USD

Thuyền viên tàu cá xa bờ

900 USD

Ngành nghề khác

1.000 USD

2

MALAYSIA Mọi ngành nghề

300 USD

3

NHẬT BẢN Thực tập sinh

3.000 USD

Thuyền viên trên tàu cá xa bờ, gần bờ và tàu vận tải

1.500 USD

4

HÀN QUỐC Thuyền viên trên tàu cá (gần bờ)

3.000 USD

Thuyền viên trên tàu cá xa bờ

1.500 USD

Lao động thẻ vàng, Visa E-7

3.000 USD

5

BRUNEI Mọi ngành nghề

300 USD

6

VƯƠNG QUỐC THÁI LAN Mọi ngành nghề

300 USD

7

CỘNG HÒA DCND LÀO Mọi ngành nghề

300 USD

8

MACAU Mọi ngành nghề

500 USD

9

CỘNG HÒA ẤN ĐỘ Mọi ngành nghề

600 USD

10

MALDIVES Mọi ngành nghề

600 USD

11

CÁC NƯỚC KHU VỰC TRUNG ĐÔNG ( RẬP XÊ ÚT, UAE, KUWAIT, BARHAIN, OMAN,JORDAN, CATA, IRAN, IRAQ, LIBAN, ISRAEL, PALESTINE, YEMEN) Mọi ngành nghề

800 USD

12

CÁC NƯỚC CHÂU PHI Mọi ngành nghề

1.000 USD

13

AUSTRALIA và NEWZEALAND Mọi ngành nghề

2.000 USD

14

CỘNG HÒA ITALIA Mọi ngành nghề

2.000 USD

15

CỘNG HÒA PHN LAN Mọi ngành nghề

2.000 USD

16

VƯƠNG QUỐC THỤY ĐIN Mọi ngành nghề

2.000 USD

17

VƯƠNG QUỐC ANH Mọi ngành nghề

2.000 USD

18

LIÊN BANG ĐỨC Mọi ngành nghề

2.000 USD

19

VƯƠNG QUỐC ĐAN MẠCH Mọi ngành nghề

2.000 USD

20

B ĐÀO NHA Mọi ngành nghề

2.000 USD

21

CỘNG HÒA MALTA Mọi ngành nghề

1.500 USD

22

CỘNG HÒA CZECH Mọi ngành nghề

1.500 USD

23

CỘNG HÒA SLOVAKIA Mọi ngành nghề

1.500 USD

24

CNG HÒA BALAN Mọi ngành nghề

1.500 USD

25

CỘNG HÒA TH NHĨ KỲ Mọi ngành nghề

1.000 USD

26

CỘNG HÒA BUNGARIA Mọi ngành nghề

1.000 USD

27

CNG HÒA RUMALIA Mọi ngành nghề

1.000 USD

28

CỘNG HÒA UKRAINA Mọi ngành nghề

1.000 USD

29

CỘNG HÒA LATVIA Mọi ngành nghề

1.000 USD

30

CỘNG HÒA SÍP và CH BẮC TH SÍP Mọi ngành nghề

1.000 USD

31

LIÊN BANG NGA Mọi ngành nghề

1.000 USD

32

BELARUSIA Mọi ngành nghề

1.000 USD

33

CÁC NƯỚC CHÂU MỸ Mọi ngành nghề

2.000 USD

34

CÁC NƯỚC KHÁC Mọi ngành nghề

Tương đương giá trị 01 (một) lượt vé máy bay từ nơi làm việc về Việt Nam

 

Để biết thêm thông tin chi tiết về XKLĐ xin liên hệ trực tiếp công ty chúng tôi:

Phòng Tuyển dụng XKLĐ Nhật Bản:

Địa chỉ: 512 Ngọc Hồi, Văn Điển, Thanh Trì, Hà Nội.

Điện thoại : 0985 069 666

Email: letrunglam1209@gmail.com

Wedsite: xuatkhaulaodong.edu.vn

Hanoilink.

Hotline: 0985 069 666
Mr Hóa
Mr Hóa
Điện thoại: 098141 1133
Skype: {call}{sep1}{hoatv@intrase.vn}{sep2}{status}
Facebook: intrase.vanhoa
Ms Hiền
Ms Hiền
Điện thoại: 0987 19 1133
Skype: {call}{sep1}{hienlt@intrase.vn}{sep2}{status}
Ms Na
Ms Na
Điện thoại: 0963 48 1133
Skype: {call}{sep1}{cvtv3@intrase.vn}{sep2}{status}
Facebook: lyna.truong.3990

Đăng ký ứng tuyển

Mét
Kg

Ý kiến ứng viên

Trần Thị Hồng - Hà Tĩnh

Tôi đã đi Thực tập sinh Nhật Bản ở công ty. Hiện tại tôi đang làm Thực phẩm ở tỉnh Kyoto - Nhật Bản. Cảm ơn Intrase đã cho em cơ hội để sang Nhật Bản học tập và làm việc

Nguyễn Thị Hường - Hải Phòng

Công ty là một công ty phái cử tốt. Chi phí xuất cảnh hợp lý. Môi trường đào tạo rất khắt khe. Cảm ơn Quý công ty đã cho em cơ hội đến Nhật

Tìm chúng tôi trên facebook

Tỷ giá ngoại tệ

thiet ke web